Thứ Ba, 4 tháng 10, 2011

TÍNH NGÔN SỨ CỦA ĐỜI TU








Đời tu, đời bước theo Chúa Kitô đóng một vai trò quan trọng của việc làm chứng cho Thiên Chúa trong xã hội. Con người tu sĩ ngày nay, sau khi đã lắng nghe tiếng Chúa mời gọi, họ ra đi và dấn thân hoàn toàn cho Thiên Chúa, sự dấn thân hoàn toàn đó nhằm nói lên việc Thiên Chúa vẫn còn tồn tại trong xã hội, và người tu sĩ sẽ sống hết cuộc đời cho Thiên Chúa. Bằng cuộc sống của mình, tu sĩ làm chứng cho một triều đại của Thiên Chúa đang hiển trị và qua cuộc sống đó, mọi đều người nhận thấy được giá trị thiêng liêng của mình và tin rằng Thiên Chúa đã đến với nhân loại và sẽ đến trong ngày quang lâm để phán xét mọi người về những việc làm của họ khi còn sống trên trần gian. Cuộc sống dấn thân của tu sĩ nói lên cho mọi người biết về một vị Thiên Chúa đầy yêu thương và qua cuộc sống đó đã nói lên tính ngôn sứ của đời tu. Bằng cuộc sống của mình, người tu sĩ đã làm chứng cho Thiên Chúa một cách triệt để nhất. Đời sống dấn thân của người tu sĩ nói lên tính ngôn sứ. Vậy, ngôn sứ là gì? Và ngôn sứ của đời tu là như thế nào ?

Ngôn sứ là những người được “ Chúa chọn ” ban cho những đoàn sủng đặc biệt : đã gặp Giavê và được ngài đích thân chiếm lấy. Họ là người “trực tiếp chịu ảnh hưởng của Thiên Chúa”, được người soi sáng, nhưng không đóng vai trò “thầy bói” để nói trước tương lai. Sứ mạng của họ là làm ngôn sứ nói thay cho Thiên chúa. Họ không có ý kiến riêng mà là phát ngôn viên của Thiên Chúa. Ngôn sứ còn là người của thời đại mình và là người được Chúa sai đến. Sống giữa dân chúng, chú ý tới các mặt thuộc đời sống của dân, biết rõ sự áp bức, bất công. Trong lịch sử Israel, các ngôn sứ đóng một vai trò khá đặc biệt. Nếu Apraham là người thừa hưởng “lời hứa” thì từ đó mở ra lịch sử dân Chúa; nếu Môisê, nhà lập pháp, người đã cho “dân chọn” thì ngôn sứ là người thanh tẩy và là cho sứ điệp của Thiên Chúa trên dân được sạch khỏi mọi bợn nhơ thế tục. Theo Alfred lappe, các ngôn sứ là người đi sửa chữa những cái hư hỏng dân chúng phải chịu do các chính trị gia thời đó gây ra và có trách nhiệm bảo vệ thánh danh và vinh dự của Thiên Chúa. Vậy họ là ai? Họ là những người được Chúa chọn trong số con cái Israel, thuộc mọi hạng người, làm đủ mọi ngành nghề trong xã hội: Samuel, thuộc dòng Lêvi; Amos, người chăn cừu; Isaia, nhà quý tộc Giêrusalem; Giêrêmia, Êđêkien, dòng tộc tư tế...

Như vậy, điểm chung nhất trong ơn gọi của các ngôn sứ là họ được Chúa đích thân chọn và gọi, đến độ như Giêrêmia: “Ngài biết tôi ngay khi tôi còn trong lòng mẹ và gọi tôi làm ngôn sứ của Ngài” (Gr 1,5) Việc Thiên Chúa gọi là một ân huệ trao ban nhưng không khiến cho ngôn sứ không thể cưỡng lại được. Họ chỉ còn cách đáp lại và lên đường làm nghĩa vụ: “Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ” (Gr 20,7). Tuy nhiên, để sứ vụ “nói thay” Thiên Chúa nên trọn, ngôn sứ phải chấp nhân một “cuộc sống chứng tá” và chấp nhận để Lời Chúa “chạm đến mình”. Họ phải sống sao để chính đời họ lên lời của Chúa cho thế gian, dù cho nhiều sứ mạng Chúa giao làm cho họ đau khổ, bị đòng bào xa lánh, bị bà con ức hiếp. Vì sứ mạng, họ phải chấp nhận chịu mọi đau khổ về thể xác và tinh thần.

Chúa Kitô, đấng mà Isaia loan báo từ ngàn xưa trong Cựu Ước đã đến với nhân loại thực sự trong đêm giáng sinh tại Bê Lem. Là ngôi lời nhập thể, Người đã hiện toàn con người yếu đuối của nhân loại. Dưới tác động của Thần Khí, Đức Kitô nghiệm thấu được mối tương quan giữa Ngài và chúng ta: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Thiên Chúa” (Lc 4,18-19). Lời ngôn sứ Isaia đã được ứng nghiệm nơi Đức Kitô. Chính ngài là ngôn sứ vĩ đại nhất mà Isaia đã loan báo, được thiên Chúa sai đến để thực thi sứ vụ “công bô năm hồng ân của Thiên Chúa” cho chính nhân loại, là đối tượng trung tâm của công trình cứu độ. Sứ mạng của Đức Kitô là đem lại ơn cứu độ đến cho những “kẻ nghèo hèn”, tù đày, áp bức,bệnh tật… Ngài quan tâm đến những khổ đau của họ.Tin Mừng mà Ngài rao giảng cho muôn dân là Tin Mừng sự sống, nhờ cuộc phục sinh vinh hiển sau cái chết nhục nhã, đau thương của Ngài. Cái chết nhục nhã đó là hình ảnh của một ngôn sứ bị bách hại vì sự thật và công lý.
Nhệm vụ của ngôn sứ xem ra rất cao cả và vĩ đại, là người phát ngôn nhân danh Thiên Chúa và truyền đạt mệnh lệnh của Ngài cho dân chúng. Thế nhưng, những công việc mà Thiên Chúa trao cho các ngôn sứ thì vô cùng nguy hiểm và chẳng dễ dàng một chút nào cả. Tuy nhiên, với lời mời gọi làm ngôn sứ của Thiên Chúa, đời tu đã đáp lại một cách dứt khoát. Các ngôn sứ đều có chung một số phận là bị bách hại, bị phản bội vậy thì tại sao các Ngài lại chấp nhận như vậy? Vì các Ngài cảm nhận được sự bình an và hạnh phúc khi sống trong vai trò của mình. Vì sự thật, các Ngài dám làm tất cả. Đây cũng là lý do ngày hôm nay đời tu được mời gọi trở nên ngôn sứ của Thiên Chúa để ra đi làm chứng cho sự thật .

Đời tu được mời gọi trở nên dấu chỉ ngôn sứ và làm chứng về Thiên Chúa và giá trị của Tin Mừng. Lời mời gọi này được cụ thể hóa về tình yêu đối với Chúa Giêsu và Tin Mừng. Bản chất của tính ngôn sứ của đời tu là sự bị loại trừ đối với thế giới, nhưng tu sĩ không rời bỏ thế giới mà đi vào xã hội. Nơi đó, tu sĩ kêu lên tiếng than về sự bất công của xã hội, khơi dậy kí ức về chương trình của Thiên Chúa, về tạo vật và về Giáo Hội, và thắp lên hy vọng xây dựng nước Thiên Chúa. Tính ngôn sứ của đời tu bắt đầu từ một ơn gọi của Thiên Chúa để người tu sĩ biết chấp nhận thân phận ngôn sứ của mình qua cuộc sống thánh hiến bằng việc tuân giữ các lời khuyên phúc âm: khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục.

Một ơn gọi:
Vai trò ngôn sứ bắt đầu từ một niềm tin. Nếu chỉ đóng khung tầm nhìn trong những giới hạn trần gian, không thể chấp nhận được sứ mệnh ngôn sứ. Thực vậy, đời tu là người đại diện Chúa nói cho dân biết về những mạc khải của Người. Nếu không tin nơi Chúa, không thể đón nhận những lời ngôn sứ. Nhưng nếu tin Chúa sẽ thấy ơn gọi ngôn sứ vượt qua mọi tính toán trần gian. Ơn gọi làm ngôn sứ hoàn toàn phát xuất từ Thiên Chúa. Bởi đó, tu sĩ không thể nói theo kiểu trần gian, nhưng phải theo ý Thiên Chúa. Ý Thiên Chúa luôn là sự thật. Sự thật mất lòng. Chính vì thế, Chúa Giêsu mới nói: “không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình” (Lc 4,24). Quê hương là hình ảnh thân thương, nhưng quê hương cũng có thể giới hạn trong tầm nhìn con người. Đây cũng là một cơ hội tốt hay xấu cho ngôn sứ, có những người đã run sợ trước những trở ngại từ chính đồng hương. Trước những đe doạ, tù đày, giết chóc, nhiều người đã không dám nói sự thật. Nhưng cũng không thiếu những người vững tin vào ơn gọi và sứ mệnh. Họ dám gánh đổi mạng sống lấy sự thật. Tận thâm tâm, họ luôn lắng nghe tiếng Chúa: “hãy nói với chúng tất cả những gì Ta sẽ truyền cho ngươi. Trước mặt dân chúng, người đừng run sợ” (Gr 1,17). Chỉ với niềm tin mói có thể thấy được tất cả chiều kích lớn lao của sứ điệp Thiên Chúa. Niềm tin sẽ mỡ rộng nhãn quan và làm nền tảng đức ái, khiến con người có thể “vui khi thấy điều chân thật”(1Cr 13,6) phát xuất từ miệng Thiên Chúa.

Một thân phận:
Sứ mệnh và số mệnh đời tu luôn gắn liền với Lời Chúa. Lời Chúa luôn chất vấn và xoáy sâu vào lòng người. Theo bước chân Chúa Giêsu, rất nhiều người đã đi đến tận cùng trái đất để làm chứng cho Thiên Chúa và thậm chí là bỏ mạng vì Lời Chúa. Dù sống trong bao hiểm nguy, Giáo Hội không bao giờ lùi bước trước vai trò ngôn sứ. Nếu những miền đất đó đón nhận ngôn sứ, chắc chắn hoà bình đã ngự trị vì Lời ngôn sứ sẽ là sức mạnh nối kết con người với Thiên Chúa và với nhau.
Tu sĩ sống các lời khấn trong cộng đoàn tạo nên một thế giới khác trong lòng thế giới hiện đại. Họ không chỉ cố gắng sống khác biệt trong thế giới nhưng xây dựng một thế giới khác tạo nên chứng tá cho nước Thiên Chúa. Tuyên khấn là sự dấn thân cho thế giới. Sống các lời khấn không chỉ tạo nên một lối sống khác trong thế giới nhưng kiến tạo một thế giới khác.

Lời khấn khiết tịnh:
Sống khiết tịnh là việc thể hiện theo Chúa Giêsu vì Nước Trời. sống độc thân vì Nước Trời. Sự trống vắng tình cảm cho phép đời tu yêu thương nhiều người đặc biệt là người nghèo, bị bỏ rơi và bị loại trừ. Khiết tịnh của đời tu là loan báo tính ngôn sứ về nước Thiên Chúa ban ân sủng cho loài người. Trước khi là một quyết định của con người, độc thân là một quà tặng của Thiên Chúa xác định vị trí của tu sĩ trong Giáo Hội. Do đó, đây cũng là một ơn gọi. Chính Chúa Giêsu, Đấng đã gọi con người sống hình thức này và ban ơn để con người đi theo Ngài trong cách sống này. Sống sự sống độc thân theo Tin Mừng trong Giáo Hội biểu lộ tỏ tường sực mạnh vô song của ơn Chúa và sự hiện diện của nước Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta. Đức trinh khiết theo Tin Mừng là một lời khuyên theo tính cách tích cực. Đó là một bậc sống có mục đích kết hiệp chúng ta với Chúa Giêsu và đưa chúng ta tới việc yêu mến và thờ phượng Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Bổn phận của đời tu là tạo cho mình có một kỷ luật sống, quy hướng mọi khả năng tình cảm, ý chí và tình yêu Thiên Chúa vào việc phục vụ tha nhân. Tu sĩ cố gắng vươn mình lên khỏi những khuynh hướng hưởng dục về phần sinh lý trong con người ( những khuynh hướng này chỉ được phép thoa mản trong đời sống hôn nhân ). Vì vậy, đời tu phải biết trông cậy vào ơn Chúa và sống tình bác ái huynh đệ.



Lời khấn khó nghèo:
Đời tu ngày nay đang gặp nhiều thử thách do sự bén nhạy của con người trước những cảnh nghèo do tình trạng nghèo khổ gia tăng khủng khiếp. Bên cạnh đó còn có thách đố đến “ từ chủ nghĩa vật chất thèm khát chiếm hữu, dửng dưng với những nhu cầu và đau khổ của những người yếu đuối, cũng chẳng quan tâm đến những việc làm quân bình những tài nguyên thiên nhiên”1. Đứng trước những thách thức này, đời tu phải tìm về nguồn xuất phát lại từ Đức Kitô, là một con người hoàn toàn sống cuộc đời nghèo khó; Người sinh ra tại Bê Lem, làm một nghề khiêm tốn, sống một đời túng thiếu trong nhà Nadareth… Và cái nghèo của Chúa Giêsu được biểu lộ rõ nét nhất là cây thập giá. Chính vì thế mà Thánh Phaolô đã nói: “ Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa” ( Pl 2,6 ), và “Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em”( 2Cr 8,9 ). Vì vậy, đời tu được mời gọi làm chứng cho Tin Mừng một cách mới mẽ và mạnh mẽ về sự từ bỏ và tiết độ, bằng một nếp sống huynh đệ với nét nỗi bật là đơn sơ và hiếu khách, cũng như làm gương cho những dửng dưng với nhu cầu của tha nhân. Chứng tá đó đương nhiên đi kèm theo một mối tình dành ưu tiên cho người nghèo, và tỏ ra một cách đặc biệt trong cách chia sẻ điều kiện sống với những cùng khốn nhất. Đời tu hôm nay đang sống trong nền “ kinh tế quà tặng ” qua lời khấn khó nghèo. Cộng đoàn tu sĩ nuôi dưỡng quan hệ đúng đắn với Thiên Chúa được diễn tả sự lệ thuộc qua sự quan phòng của Ngài. Hơn nữa, kinh tế quà tặng làm cho cộng đoàn có khả năng quảng đại đi đến với những người nghèo. Tu sĩ chọn lựa người nghèo không phải vì không muốn họ trở nên giàu có nhưng muốn thể hiện lòng nhân từ cua Thiên Chúa. Tu sĩ nhận thức rằng người nghèo về vật chất, tinh thần và thiêng liêng không chỉ là những người ăn xin mà là anh chị em của chính mình.
Trong bối cảnh như thế, sống chính trực với nền kinh tế quà tặng là một loan báo tính ngôn sứ về niềm hy vọng là chúng ta có thể loại bỏ sự nghèo đói trong thế hệ của chúng ta.

Lời khấn vâng phục:
Khi nói tới vâng phục là nói tới quyền bính và tới đời sống cộng đoàn. Thời xưa, vâng phục được hiểu như sự vâng phục mù quáng. Ngày xưa chỉ có bề trên là người ra lệnh, còn bề dưới phải tuân hành, dù cho sự tuân hành ấy đôi khi dẫn đến sự lệch lạc. Ngày xưa, những quyết định của bề trên phải được coi là ý Chúa. Vậy đức tuân phục thực chất là gì?
Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đã vâng phục Chúa Cha cách tuyệt đối, đây là khuôn mẫu của sự vâng phục nơi người tín hữu và gắn kết đời sống vâng phục trong lòng mến. Tuyên khấn vâng phục, người tu sĩ trước hết phải luôn lắng nghe tiêng Chúa, tìm kiếm ý định của Ngài trong thế giới. Cộng đoàn tu sĩ không chỉ là lắng nghe mà còn là đang tìm kiếm. Các tu sĩ sống lời khấn vâng phục trong cộng đoàn là những người ngang hàng, tự do chọn lựa đến với nhau không phải để sống đời sống hôn nhân để làm kinh tế nhưng vì tình yêu đối với Thiên Chúa. Đời tu mời gọi mọi người phục vụ lẫn nhau bằng cách bắt chước Chúa Giêsu, Đấng đã hy sinh mạng sống cho chúng ta và trong bữa tiệc ly Người đã để lại di chúc “anh em hãy làm việc này mà nhứ đên thầy”(Lc 22,9). Sống lời khấn vâng phục triệt để trong cộng đoàn là một chứng tá ngôn sứ về nước Thiên Chúa. Tuy nhiên, để sống vâng phục trong thế giới hôm nay quả là một thách đố đối với những ai sống đời tận hiến. Vì lạm dụng tự do, con người không thể phân biệt được đâu là ý Thiên Chúa. Họ đề cao tự do, coi tự do như là một quyền được làm bất cứ điều gì, miễn sao được sự thỏa thích, kể cả điều xấu. Thách đố đó còn được thể hiện qua việc hiện tượng số tu sĩ giảm sút trong các hội dòng, sự giảm sút về đức tin, sự tầm thường hóa đới sống đức tin. Đứng trước những thách đố này, đời tu được mời gọi hoán cải không ngừng để chiều kích ngôn sứ mang lấy một sinh lực mới. Do đó, qua việc sống vâng phục, tu sĩ chứng minh cho nhân loại thấy rằng vâng phục và tự do không mâu thuẫn với nhau, nhưng là con đường để chinh phục sự tự do chân chính.

Tính ngôn sứ của đời tu là một thách đố lớn đối với con người. Tuy nhiên, được Thiên Chúa mời gọi, tu sĩ sẳn sàng ra đi để chống lại những cản trở chống lại nước Thiên Chúa, chống lại những lầm lạc chính yếu liên quan đến sở hữu, tình cảm và quyền lực. Đời tu được mời gọi hội nhập chiều kích Tin Mừng và cuộc đấu tranh biến đổi xã hội bằng chính cuộc sống của mình. Để nhờ đó, con người ý thức được vai trò của mình là trở về với Thiên Chúa. Và qua đời sống của tu sĩ, mọi người ý thức được nước Thiên Chúa, thấy được việc hiến tế cứu độ của Chúa Giêsu xả thân vì phần phúc của con người và những chiều kích sâu thẳm của mầu nhiệm nước Thiên Chúa.

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2011

VIÊN NGỌC TRAI

Viên ngọc trai ẩn mình dưới đáy biển
Như người thợ lặn mò trai

Hồn tôi ơi! Hãy lặn sâu
Lặn sâu nữa và cứ kiên trì
Lần đầu chưa thấy gì đâu
Hãy lặn sâu như người mò đáy biển
Đừng bỏ cuộc và hãy kiên trì
Hãy lặn sâu, lặn sâu hơn nữa
Cứ tiếp tục tìm đi
Những người đứng trên bờ
Sẽ nhạo cười bạn đấy
Nhưng chớ có buồn phiền
Đừng đánh mất nhuệ khí
Hỡi người mò dáy biển
Viên ngọc quý ẩn mình
Dưới đáy lòng trùng dương
Vững niền tin, bạn sẽ thấy
Bao nhiêu điều ẩn khuất
Hãy lặn sâu hơn nữa
Hồn tôi hỡi! như người mò dáy biển
Hãy kiên trì tìm mãi thôi

Thứ Năm, 29 tháng 9, 2011

khôn ngoan

“Chúng tôi không sống theo lẽ khôn ngoan người đời,
nhưng theo ân sủng của Thiên Chúa.” (2Cr 2, 12).


Những nền văn hóa Đông phương đều lo tìm kiếm sự khôn ngoan. Sự khôn ngoan này nhằm mục đích thực tế là giúp con người cư xử thận trọng và khôn khéo để thành công trên đời. Điều đó bao hàm một suy tư về thế giới và cũng đưa đến một khởi thảo một nền luân lý, để rồi không thể thiếu liên lạc với tôn giáo. Vào thế kỷ VI ở Hy lạp, niềm suy tư nặng phần lý thuyết nên khôn ngoan biến thành triết lý. Như vậy bên cạnh một khoa học vừa phôi thai và những kỹ thuật đang phát triển, khôn ngoan là một yếu tố quan trọng của nền văn minh.
Trong mạc khải Thánh Kinh, Lời Chúa cũng mang hình thức khôn ngoan. Đó là sự kiện quan trọng nhưng cần phải giải thích đúng đắn. Sự kiện đó không có nghĩa là đến một giai đoạn phát triển nào đó, mạc khải sẽ biến dạng thành nhân bản thuyết. Sự khôn ngoan được linh ứng, cho dù nó bao hàm phần tinh hoa của khôn ngoan nhân loại, nhưng có một bản chất khác hẳn. Sự kiện này đã manh nha từ Cựu Ước, và được nổi bật trong Tân Ước[1].
Khôn ngoan nhân loại và khôn ngoan Thiên Chúa
Sách Các Vua cho thấy “Sự khôn ngoan của Salomon lớn hơn sự khôn ngoan của tất cả người Trung Đông và hơn cả sự khôn ngoan của Ai cập.” (1V 5, 9-14). Ý tưởng này nhằm đến tri thức cá nhân và cả nghệ thuật cai trị khéo léo của nhà vua. Nhưng đối với những người có lòng tin thì đó là hồng ân Thiên Chúa mà Salomon đã cầu xin được.
Đành rằng có thứ khôn ngoan này thì cũng có những thứ khôn ngoan khác. Nhưng khôn ngoan đích thực thì bởi Thiên Chúa, chính Ngài ban cho con người “một quả tim biết phân biệt lành dữ”(1V 3, 9). Nhưng rồi cũng như nguyên tổ, mọi người đều bị lôi cuốn tiếm đoạt quyền này của Thiên Chúa, dựa vào sức riêng của mình (x. Stk 3, 5). Đó là khôn ngoan lừa lọc và mưu mô của con rắn lôi cuốn họ theo (x. Stk 3, 1). Đó là khôn ngoan của các luật sĩ, của những kẻ có quyền bính, hành xử hoàn toàn theo tính cách phàm tục, theo nhãn giới riêng, theo nhận xét riêng mà các sứ ngôn đã từng cảnh cáo (x. Is 5, 21).
Sự kiện Giêrusalem sụp đổ đã xác nhận những lời cảnh cáo của các ngôn sứ, vì thế lòng kính sợ Thiên Chúa sẽ là nguyên tắc và thành tựu của khôn ngoan (x. Cn 9, 10). Sách Thánh vịnh cũng đã vang lên: “Kính sợ Chúa là đầu mối khôn ngoan.” (Tv 111, 10); và Sách Huấn ca cũng đã dạy: “Lòng kính sợ Đức Chúa là tuyệt đỉnh của khôn ngoan, mang lại bình an và sức khoẻ dồi dào.” (Hc 1, 18).
Người khôn ngoan trong Kinh Thánh trước tiên là người nhận thấy bàn tay quyền năng của Thiên Chúa trong thiên nhiên vạn vật và trong chính đời sống mình (x. G 36, 22-27; Hc 42, 15-43). Từ đó, họ là người thành thạo trong nghệ thuật sống đứng đắn; là người biết nhìn thế giới chung quanh với cặp mắt sáng suốt và không ảo tưởng; là người biết những bí ẩn và giới hạn của con người qua những niềm vui hay nỗi khổ (x. Cn 13, 12; Gs 7, 26); là người biết vạch ra qui luật cho mình là phải biết sống thận trọng, điều độ trong ước muốn, làm việc khiêm tốn, chừng mực, từ tốn, chân thành trong lời nói, v.v...
Sách thánh và các sứ ngôn cũng đã gợi cho họ những huấn giới về làm phúc bố thí (x. Hc 7, 32; Tb 4, 7-11); đức công chính (x. Cn 11, 1); yêu thương kẻ nghèo khó (x. Cn 14, 31). Vấn đề bất công, đau khổ, sự chết cũng sẽ được giải quyết trong niềm tin vào sự sống lại (x. Đn 12, 2...) và vào đời sống vĩnh cửu (x. Kn 5, 15).


Thiên Chúa, Đấng Khôn Ngoan
Sự khôn ngoan con người bắt nguồn từ Thiên Chúa. Ngài ban cho ai tùy ý, vì chính Ngài là Đấng Khôn Ngoan tuyệt hảo. Vì thế các tác giả Sách Thánh chiêm ngắm sự Khôn Ngoan Thiên Chúa như nguồn gốc sự khôn ngoan của họ. Đó là một thực tại thần linh đã có từ muôn thuở và sẽ còn mãi mãi (x. Cn 8, 22-26; Hc 24, 9). Sự khôn ngoan được nhân cách hóa, đã có mặt ngay trong cuộc sáng tạo (x. Cn 8, 27-31), và tiếp tục quan phòng hướng dẫn lịch sử (x. Kn 10, 1-11), bảo đảm ơn cứu độ cho những ai tiếp đón sự khôn ngoan và cũng chính là Thần Khí của Thiên Chúa (x. Kn 9, 17). Chính sự khôn ngoan tạo nên những người bạn của Thiên Chúa (x. Kn 7, 27tt). Sống mật thiết với khôn ngoan là sống mật thiết với chính Thiên Chúa.
Khi đồng hóa sự Khôn Ngoan với Đức Kitô, Tân Ước đã cho thấy khi liên kết với Đức Kitô, con người được thông phần vào sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa và thấy mình được sống mật thiết với Ngài. Đức Kitô chính là “sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa” (1Cor 1, 24.30). Trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã tiền định cho chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Con của Ngài (x. Rm 8, 29). Nguồn gốc sự khôn ngoan của chúng ta là như thế, nhưng nó còn tùy thuộc vào đời sống của mỗi người trong việc đón nhận và thấm nhập vào Đức Kitô đến mức độ nào.
Sự khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa
Sự khôn ngoan đã được mạc khải một cách nghịch thường qua sự điên dại của Đức Kitô khi Ngài đã dùng Thập Giá để cứu thế gian (x.1Cor 1, 17-25). Qua đó chúng ta thấy được sự khôn ngoan tự nó là một cái gì của Thiên Chúa, bí nhiệm và tàng ẩn, mà trí khôn loài người không thể dò xét được (x. 1Cor 2,7tt; Rm 11, 33tt; Col 2, 3), và chỉ được thông ban cho những ai sẵn sàng vâng nghe Ngài (x.1Cor 2, 10-16; Ep 1, 17). Chỉ khi con người tội lỗi của chúng ta cùng chịu đóng đinh với sự khôn ngoan kiêu căng của mình thì mới được tái sinh vào đời sống mới của Đức Kitô, để biết luôn hành động trong sự khôn ngoan của Thiên Chúa dưới tác động của Thần Khí.
Sự khôn ngoan đó trước hết không phải là quy luật sống, nhưng là mạc khải về mầu nhiệm Thiên Chúa (1Cor, 2, 6...), là tột đỉnh của sự hiểu biết tôn giáo mà thánh Phaolô cầu xin Thiên Chúa ban cho các tín hữu (x. Col 1, 9), để nhờ đó họ có thể chỉ bảo cho nhau (x. Col 3, 16) nhờ Thần Khí (x.1Cor 2, 13). Từ đó, khía cạnh luân lý của sự khôn ngoan mới dàn trải ra trong đời sống hằng ngày của Kitô hữu (x. Ep 5, 15; Col 4, 5).
Không có sự khôn ngoan thì việc thực hành vững vàng các nhân đức luân lý như khiêm nhường, hiền lành, trong sạch, vâng lời... cũng sẽ héo mòn. Để được như vậy, chúng ta cần tập nhìn mọi sự diễn ra dưới sự hiện diện của Chúa, đúng như Chúa là tác giả. Với cái nhìn khôn ngoan này, mọi nhân đức sẽ triển nở tươi tốt để điểm tô một nhân cách toàn diện.
Khôn ngoan – đặc ân của Thánh Thần
Khôn ngoan là đặc ân quí giá nhất của Chúa Thánh Thần , vì đó là hoa quả riêng của đức ái, là kho tàng tuyệt hảo nhất mà người ta có thể chiếm hữu trong cuộc sống này. Điều đó bao gồm một sự xếp đặt của tâm trí chúng ta để nhìn xem và đánh giá mọi sự trong ánh sáng thần linh.
“Khôn ngoan” theo động từ tiếng La tinh là “sapere”, nghĩa là “nếm”, là thưởng thức hương vị của món ăn. Theo nghĩa bóng, người khôn ngoan là người biết hưởng nếm, biết thưởng thức hương vị sâu xa, mặn mà của cuộc sống mình, biết đi sâu vào thực trạng nội tâm của mình, biết khám phá vẻ đẹp chân tính để vượt lên lối sống tầm thường của thế gian. Từ đó, ta mới cảm được sự thú vị của khôn ngoan, là càng ngày càng thấu hiểu sâu xa hơn những mầu nhiệm tôn giáo. Bởi vậy, sự khôn ngoan được định nghĩa như “một đặc ân mà nó làm hoàn hảo đức ái, bởi có thể làm cho chúng ta thuộc về Thiên Chúa và những vật thần linh trong những nguyên lý tối hậu, và bởi ban cho chúng ta một hương vị thích thú nơi chúng”[2].
Sách Thánh Vịnh đã mời gọi chúng ta: “Hãy nếm thử và hãy nhìn coi, Chúa thiện hảo dường bao.” (Tv 33, 9). Đặc ân khôn ngoan không chỉ cho chúng ta nhìn thấy bằng ánh sáng của tâm trí, mà còn bằng đôi mắt của tâm hồn. Nó cho chúng ta khả năng kinh nghiệm để nếm thử và thưởng thức những sự vật thần linh.
Bởi đặc ân khôn ngoan như thế, Đức Maria đã chọn cuộc đời dâng hiến cho Thiên Chúa, vì cách nào đó Mu ẹ đã nhìn thấy ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa trong chương trình sáng tạo và cứu chuộc của Ngài. Bởi đó, Mẹ đã quyết định “xin vâng” hoàn toàn để ý định của Chúa được hoàn tất nơi Mẹ, mà bất chấp những gì sẽ xẩy ra sau này. Bởi đó, Mẹ đã sống cuộc đời “xin vâng” một cách tuyệt đối để minh chứng rằng, mọi sự dưới vòm trời này chỉ có ý muốn của Thiên Chúa là khôn ngoan tuyệt hảo. Bởi đó, Mẹ cũng đã tuyên xưng lòng “xin vâng” một cách triệt để và anh hùng ngay dưới chân Thập giá Đức Kitô, để loan báo rằng, đó là mầu nhiệm cứu độ vô cùng khôn ngoan của Thiên Chúa mà thế gian không tài nào hiểu nổi, nhưng chỉ dành cho những ai bé nhỏ khiêm nhường. Thật tuyệt vời khi Đức Trinh Nữ Maria được gọi là “Tòa Khôn Ngoan”.
Khôn ngoan đích thực nơi chính mình
Để cho ơn khôn ngoan của Chúa có thể lan tỏa trên mọi lãnh vực của đời sống, trước tiên cần phải khui ra cho được những cảm nghĩ tiêu cực của mình. Phải phơi bày ra ánh sáng những cảm tưởng và động lực mờ ám đang tàng ẩn trong tiềm thức, luôn thúc đẩy ta suy nghĩ và hành động theo hướng tiêu cực. Tất cả mọi rối reng và bất ổn bên ngoài đều phát xuất từ chính tâm hồn mình. Đừng cố gắng xoay chuyển thực tại, hoàn cảnh hay người khác, vì đó là việc làm vô ích và dại dột. Thực tại không không hề có vấn đề. Vấn đề nằm trong thâm tâm của mình. Chính mình là vấn đề. Nếu lấy hết mọi người ra khỏi hành tinh này thì sự sống vẫn tiếp diễn ở đó, thiên nhiên vẫn tiếp tục đi con đường của nó với tất cả nét yêu kiều và sức mạnh của nó.
Vì thế, đừng bao giờ đồng hóa mình với những cảm nghĩ tiêu cực do mình chiết xuất ra từ những dữ kiện bên ngoài. Cần phân định giữa cái “tôi” chủ thể và cái “tôi” đối tượng. Mọi cảm tưởng phát sinh là do sự kiện bên ngoài cung cấp và lôi kéo, nó chẳng dính dáng gì đến cái “tôi” chủ thể, nên không được xác định bản ngã căn cơ của mình bằng những cảm nghĩ đó. Ảo tưởng và sai lầm phát sinh ở chỗ ta dùng những cảm nghĩ từ những dữ kiện để xác định con người hay thái độ của mình.
Có thể ở đây và lúc này có một nỗi chán chường hay những thương tổn. Cứ mặc kệ nó, nó tự động đến thì nó tự động đi. Sự hiện diện của chúng như thủy triều lên xuống, không ăn nhập gì đến hạnh phúc của cái “tôi” chủ thể, nên đừng để mình bị tác động và đẩy đưa theo sự kiện của cái “tôi” đối tượng. Cần phải biết nhận thức để tạo sự cách ly, không chập lại làm một giữa hai cái “tôi” đó, nếu không, ta sẽ bị động tâm và nao núng, gây nên cảm ứng bung xung vì đã đặt mình lệ thuộc vào sự kiện bên ngoài. Đó là trường hợp khi ta quá bận tâm về sự chấp nhận hay phi bác của người khác, mà đánh mất tự do và bản lãnh của mình.
Cái cám dỗ sai lầm thường xuyên của chúng ta là muốn lấy người khác làm thước đo giá trị bản thân mình, và như vậy là tự đặt mình vào tình trạng nô lệ nghiệt ngã, không còn một chút khôn ngoan nào. Vì thế, kinh Bhagavad Gita của Ấn giáo khuyên ta: “Hãy lăn xả vào giữa khói lửa của chiến trận, và hãy đặt cõi lòng mình nơi tòa sen của Thần Minh”.
Cứ phải tự tách mình ra khỏi sự kiện, đặt mình trong trạng thái tự do, thanh thoát, hồn nhiên và sinh động. Để được tự do, ta không cần phải làm gì cả, chỉ cần bỏ đi một cái gì đó thôi. Cũng vậy,“Người ta không đạt đến Thiên Chúa bằng việc bổ xung thêm cái gì vào linh hồn mình, nhưng là bằng việc bớt đi.” (Meister Eckhart). Trong quan hệ với mọi người cũng thế, “Không phải ta thấy dễ chịu khi thiên hạ tốt đẹp, nhưng thiên hạ tốt đẹp vì ta thấy dễ chịu.” (Anthony de Mello).
Khôn ngoan như thế đòi ta phải kiên quyết giữ vững lòng trí mình một cách thanh tịnh, để tạo sự bình tâm giữa những xáo trộn của mọi tình huống bên ngoài, đồng thời hướng lòng mình lên cao để đón nhận ánh sáng của chân lý, giúp cho tâm hồn vẫn ung dung triển nở những cảm nghĩ tích cực và những phong thái cao đẹp. Muốn thế, những tình cảm không bao giờ tìm cách đi trước lý trí, và những cảm xúc không bao giờ được lấn át lý lẽ. Nhờ vậy ta tránh được những bồng bột và kích động của bản năng khi đứng trước mọi tình thế, để bình thản nhận ra đâu là dấu chỉ của thánh ý Thiên Chúa, đó là tuyệt đỉnh của sự khôn ngoan.
Đức Gioan XXIII nói về người khôn ngoan
- “Khôn ngoan là người biết giữ một phần sự thật khi chưa tiện nói ra, miễn là sự thinh lặng đó không làm nhẹ giá hay gây sự hiểu lầm cho một phần sự thật được tiết lộ”.
- “Khôn ngoan là người biết đi đến mục đích mình đã lựa chọn bằng những phương pháp kiến hiệu để quyết định đúng và thi hành đúng.”
- “Khôn ngoan là người biết tiên đoán và đo lường mọi khó khăn trở ngại có thể xảy ra, biết chọn con đường vừa phải để không gặp trở ngại khó khăn quá lớn.”
- “Khôn ngoan là người khi đã nhắm mục đích tốt đẹp, lớn lao và cao cả, sẽ không lạc hướng, nhưng biết vượt mọi trở ngại để làm cho được việc một cách hoàn hảo.”
- “Khôn ngoan là người trong mọi vấn đề biết đâu là cái chính, không lẩn quẫn trong cái phụ; biết dồn hết toàn lực một cách liên tục để đi cho tới cùng đích một cách tốt đẹp.”
- “Khôn ngoan là người khi bắt đầu, đã biết dâng hiến và phó thác thành quả cho Chúa, dù có thất bại một phần hay hoàn toàn đi nữa thì họ vẫn an tâm vì đã làm đúng, và biết qui hướng tất cả theo ý Chúa, cho vinh quang cao cả của Chúa.”
Phẩm chất của đời sống khôn ngoan
Hạnh phúc và bình an của người khôn ngoan phát sinh từ sự ngay thẳng: “Khôn ngoan chỉ tìm thấy ở trong sự chân thật.” (Goethe); cũng như từ tâm hồn lương thiện và đời sống trong sáng:“Sự khôn ngoan không thể len lỏi vào đầu óc của kẻ thiếu ý hướng ngay lành.” (Latin Proverb).
Người khôn ngoan thật là người biết tôn trọng, yêu quí và luôn tìm kiếm chân giá trị của đời sống, do đó biết đánh giá cao những gì tốt lành và dẹp sang một bên những gì tầm thường. Chúa Giêsu cũng đã nêu cao tính cách khôn ngoan của cô Maria, khi cô biết chọn cho mình phần tốt nhất và chẳng ai có thể lấy đi được (x. Lc 10, 39-42). Từ đó, ta cũng thấy người khôn ngoan là người can đảm để chọn một tính cách, một lối sống mà không sợ kẻ khác dèm pha, chỉ trích; đồng thời cũng là người biết tận dụng mọi thời cơ để lắng nghe tiếng Chúa, Đấng đang muốn thông truyền cho mình sự khôn ngoan đích thực: một sự khôn ngoan không dựa trên quan niệm của người đời, “bởi vì điều cao trọng đối với người đời lại là điều ghê tởm trước mặt Thiên Chúa.” (Lc 16, 15).
Thánh Phaolô cũng hòa chung tâm tình đó: “Vì sự khôn ngoan đời này là sự điên rồ trước mặt Thiên Chúa...” (1Cr 3, 19). Khôn ngoan đích thực là sự hiểu biết Thiên Chúa muốn mạc khải cho những người khiêm tốn, bé mọn (x. Lc 10, 21). Thật vậy, “Kiêu hãnh đi liền với ô nhục, khôn ngoan ở với kẻ khiêm nhường.” (Cn 11, 2). Vì thế, “Ai đẹp lòng Thiên Chúa, thì Người ban cho trí khôn ngoan, sự hiểu biết và niềm vui.” (Gv 2, 26). Thánh Giacôbê đã kể ra những phẩm chất khôn ngoan do Chúa ban: “Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hoà, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình.” (Gc 3, 15-17).
Sự khôn ngoan của Thập Giá
Không thể tiến tới khôn ngoan sâu nhiệm nếu thiếu học hỏi và đào luyện mình ở trường đau khổ của Thập Giá Đức Kitô. Vì thế người khôn ngoan nhất là người biết tận dụng mọi khổ đau để được nên giống Đức Kitô và sống làm một với Ngài, để sự khôn ngoan của Ngài làm thành sự khôn ngoan của chính mình.
Thánh nữ Magarita thuật lại rằng, một hôm Chúa hiện ra với chị và nói: “Hai điều sau đây con muốn chọn điều nào: một là được khỏe mạnh, lòng trí luôn vui hưởng sự ngọt ngào và êm ái, được bề trên tín nhiệm, chị em quí mến, người ngoài cảm phục; hai là phải ốm đau bệnh tật, chịu bề trên thử thách, chị em khinh dể, luôn luôn cay đắng và tư bề khốn cực”. Nghe vậy, Magarita xao xuyến âu lo, sấp mình xuống than thở cùng Chúa: “Lạy Chúa, con chẳng dám chọn điều nào cả, nhưng điều nào làm đẹp lòng Chúa hơn thì xin Chúa chọn thay cho con”.
Chúa lại phán bảo cùng chị: “Ta chọn cho con, con đường Thánh giá, vì chỉ Thánh giá mới làm đẹp lòng Ta hơn cả, và chỉ ai yêu mến Thánh giá mới thực giống ta hoàn toàn...”. Cũng chính lúc ấy Chúa cho xem thấy những sự khốn khó của cả đời chị. Chị rùng mình kinh khiếp, âu lo cho số phận mai ngày không biết ra sao, đau khổ sẽ làm cho đời mình ra thế nào. Bấy giờ chị suy nghĩ: “Yêu ai thì trao tặng điều quí nhất cho người mình yêu. Chúa Giêsu sẽ ban Nước Thiên Đàng cho những kẻ Ngài yêu, nên chẳng còn gì quí hơn là Thánh giá”.
Từ ngày đó trở đi, sau khi viết tờ tường trình phổ biến về việc yêu mến Thánh Tâm Chúa, Magarita chịu biết bao nhiêu khốn khổ: bị Giáo quyền cho là cuồng tín và bị quỉ ám, nên một linh mục nọ đến làm phép trừ quỉ cho chị. Chị tâm sự: “Bấy giờ mọi người đồng tình làm khổ tôi, bêu xấu tôi, bạc đãi tôi...” Chị phải chịu đựng như thế trong suốt 20 năm trường, nhưng nhờ vậy việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu được phổ biến khắp nơi. Những đau khổ, khờ dại của chị Magarita ngày xưa, giờ đây đã biến thành khôn ngoan, vinh hiển trước tòa Chúa.
Thật ra, khi kết hiệp sâu xa với Chúa trong cầu nguyện là lúc Chúa xin ta, chứ không phải ta xin Chúa. Điều Chúa xin ta vẫn luôn là tình yêu cứu độ của Ngài, mà chỉ có thể cứu độ qua con đường Thập giá là hiến thân hy sinh chính bản thân mình. Hoa trái của sự khôn ngoan siêu vượt này chỉ một mình Chúa biết và thông tri cho những tâm hồn khiêm nhu bé mọn, là những người được ôm ấp trong trái tim yêu dấu của Chúa, để họ có sức mạnh uống cạn chén đắng linh thiêng mà cũng chỉ một mình họ hiểu ý nghĩa và giá trị siêu vượt của nó. Đó cũng là sự khôn ngoan của trái tim chan chứa tình yêu, vượt trên sự khôn ngoan của trí óc.

Lạy Chúa, con cảm tạ ơn Chúa vì mọi thử thách Chúa đã gởi đến cho con. Có những thử thách nặng nề đã làm con bàng hoàng kinh sợ, rã rời, chán ngán cuộc đời và con người. Có khi con đã muốn bỏ cuộc, nhưng rồi qua đó Chúa đã biến đổi cuộc đời con. Kinh nghiệm này cho con cảm nhận được tình yêu vô cùng khôn ngoan của Chúa, và dạy con trên bước đường đi tới hãy biết muốn điều Chúa muốn, biết yêu điều Chúa yêu, biết sống cho Chúa như Chúa đã sống cho con. Đó là sự khôn ngoan sâu thẳm nhất, vì sau mỗi thương đau là một đổi mới, cho con hưởng nếm được niềm vui khôn tả, và là một bảo đảm hạnh phúc của Chúa cho con.
Xin cho con biết nhìn xem mọi người, mọi vật và các biến cố như Chúa nhìn chúng trong một tinh thần khôn ngoan đích thật. Amen.

Lm Thái Nguyên

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2011

NỖI BUỒN

Bán cho anh nỗi buồn đi cô gái
Thấy cô buồn-anh mua giúp- giá bao nhiêu???)
Tôi ngỡ ngàng nhìn người khách cuối chiều
(Anh chờ chút để tôi cân cái đã)

Tôi ái ngại, bởi nỗi buồn nặng quá
(Bán thế nào được khi vô giá hở anh???)
Khách nài nỉ (Khó dễ chi, xin em hãy bán nhanh,
Mẹ anh vừa mất... nên anh đây buồn lắm.)

Tôi cúi mặt, ôm nỗi buồn gậm nhấm
Quá mủi lòng, thôi chẳng bán cho không
Khách ngạc nhiên, rồi tỏ ý phật lòng
(Cảm ơn em, tôi không cần bố thí)

Khách bỏ đi tưởng nhầm tôi cố ý
Tôi vô tâm cũng lặng lẽ quay đi
Mấy năm liền nỗi buồn vẫn nằm ì
Chẳng người mua nên tôi đâu màng bán

Tôi u hoài mang niềm đau ai oán
Ngõ hồn mình chờ đợi bóng ai sang
Anh giờ này có nhớ kẻ bên đàng
Nỗi buồn tôi chợt nhiên thèm giải thích

Tháng tư về cho cơn mưa rả rích
Tôi cuộn mình trong cổ tích ngủ yên
Bỗng người lạ từ đâu tới hàn huyên
Thầm mong tôi bán nỗi buồn ngày trước

Người ấy bảo không thể nào quên được
Nỗi buồn mà cô gái muốn biếu cho


Tôi nghẹn ngào (xin anh hãy đắn đo,
Cái vô giá anh làm sao mua nổi)

Khách tươi cười (em đừng vội từ chối)
Cầm tay tôi người lồng chiếc nhẫn xinh
Mua nỗi buồn bằng tất cả chân thành
Giá phải trả là cuộc đời anh. Em ạ!

Tôi rưng lệ lòng tưng bừng rộn rã
Nỗi buồn bao năm tự hóa bướm bay đi
Sự thật đây rồi chẳng phải mơ gì
Tôi mềm nhũn trong tay anh hạnh phúc
28-4-2005
Nguồn: Trinhnu.net

Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2011

Tìm kiếm

Khi nói đến tìm kiếm là gì có lẽ mỗi người chúng ta có những câu trả lời khác nhau. Vấn đề của tôi nêu ra là tìm kiếm cái gì và tìm kiếm như thế nào.


Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta đều là những con người tìm kiếm. Chúng ta chỉ mong sao mình tìm thấy được cái mà mình đang tìm. Tôi xin nêu ra vài khía cạnh để cho độc giả có thể đối chiếu với bản thân mình.
Trước tiên là cuộc tìm kiếm đời sống hạnh phúc gia đình. Có lẽ mỗi người ai cũng mong sao cho gia đình mình luôn được hạnh phúc nhưng để đạt tới hạnh phúc thì còn là một vấn đề cần phải bàn tiếp. Vậy, hạnh phúc là gì? Như thế nào gọi là hạnh phúc?. Ngày nay, có thể nói rằng tiền bạc đang chi phối đời sống của nhiều người và con người chạy theo tiền bạc mà đánh mất đi căn tính của mình. Đánh mất đi con người thật của mình trong khi mình là nhưng con người “Đảng viên” của Xã Hội Chủ Nghĩa. Nhìn vào lịch sử Việt Nam trong những năm gần đây có hàng trăm  đảng viên là những người bước theo chân cụ Hồ đã tìm hạnh phúc của mình qua việc tham nhũng. Tôi thư hỏi: tại sao con người lại tham nhũng trong khi cuộc sống của mình đâu có đi ăn xin như những người ăn xin ngoài đường. Chưa hết, còn có mấy chú cảnh sát giao thông đứng đường nữa, cứ thấy chiếc xe nào phạm luật kể cả không phạm luật nếu “vui” thì cho qua con “buồn” thì thổi lại vói hình thức xử phạt tại chỗ với tờ biên lai “tự chế”. Tôi thầm nghĩ có phải họ “chết đói” không hay là đồng lương của họ không đủ để nuôi sống vợ con họ nên họ làm như vậy. Chính họ là những con người được học tập, được đào tạo đên nơi đên chốn thậm chí là mộ đảng viên được tiếp thu đầy đủ về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Tại sao họ lại làm như vậy? đấy có phải là cái họ đang tìm kiếm không?
 Trở lại với cuộc tìm kiếm hạnh phúc gia đình, cũng có nhiều người vì gia đình mà hy sinh bản thân của mình. Có nhưỡng người luôn yeu thương các thành viên trong gia đình cho dù gia đình mình nghèo khổ đến đâu, cho dù họ không bao giờ tham nhũng. Trên khuôn măt họ bao giờ cũng nở nụ cười hạnh phúc. Vậy cuộc tìm kiếm của họ thành công chưa?
Đối với những người tin có sự sống đời sau, có lẽ cuộc tìm kiếm đích thực của họ chính là cái sự sống đó. Cách thức để được hưởng sự sống đó cũng không gì khó khăn cho lắm, vấn đề là chúng ta có dám sống với những cách thức đó không? Cách thức để sống chính là dành một tình yêu đặc biệt tới tát cả mọi người kể cả thù đich của ta, cách thức chính là quên đi cái tôi ích kỷ của mình để hạ mình xuống lắng nghe mọi người, cách thức chính là sống đúng với tư cách là một con người hiền lành, hồn nhiên trong trắng làm đẹp lòng mọi người. Chỉ như vậy chung ta mới thực sự là một con người tìm kiếm đúng với cái mình đang tìm. Đây là sự khôn ngoan đích thực mà chúng ta cần phải hướng tới. chắc chắn có nhiều người nói chúng ta dại dột hay ngu dốt nhưng điều đó không quan trọng, vấn đề là những việc mình sống và làm đều không thẹn với lòng